Nghiên cứu và đánh giá bù sai lệch đáp ứng tuyến trung tần giữa hai kênh trong máy thu rađa thụ động

Các tác giả

  • Tran Duc Thien Nhà máy Z119, Quân chủng Phòng không - Không quân
  • Nguyen Cao Huu Nhà máy Z119, Quân chủng Phòng không - Không quân
  • Tran Xuan Luong (Tác giả đại diện) Học viện Phòng không - Không quân

DOI:

https://doi.org/10.54939/1859-1043.j.mst.114.2026.55-62

Từ khóa:

Rađa thụ động; Nhiễu; Ảnh cự ly – Doppler; Tín hiệu trực tiếp.

Tóm tắt

 Bài báo nghiên cứu ảnh hưởng của sự mất cân bằng giữa các kênh trung tần đến hiệu quả triệt nhiễu trong hệ thống rađa thụ động sử dụng tín hiệu FM. Sự sai khác về đáp ứng biên độ và pha giữa kênh tham chiếu và kênh giám sát có thể làm suy giảm đáng kể khả năng triệt nhiễu tín hiệu trực tiếp. Phương pháp triệt nhiễu LS/ECA kết hợp với cân bằng đáp ứng kênh trong miền tần số được sử dụng nhằm bù sai lệch giữa hai kênh. Mô phỏng được thực hiện trên MATLAB với tín hiệu FM có tần số trung tâm 96 MHz và băng thông xấp xỉ 180 kHz. Kết quả cho thấy khi sai lệch biên độ giữa hai kênh là 3 dB, độ sâu triệt DSI giảm từ 62,18 dB xuống 15,33 dB và SINR đầu ra giảm từ 6,71 dB xuống −40,24 dB. Sau khi cân bằng đáp ứng kênh, độ sâu triệt DSI và SINR đầu ra được phục hồi tương ứng lên 61,97 dB và 6,49 dB. Kết quả cho thấy cân bằng kênh IF có khả năng bù hiệu quả sai lệch giữa hai kênh và cải thiện đáng kể hiệu quả triệt nhiễu trong hệ thống rađa thụ động.

Tài liệu tham khảo

[1]. J. L. Garry, C. J. Baker, and G. E. Smith, “Evaluation of Direct Signal Suppression for Passive Radar,” IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, Vol. 55, No. 7, pp. 3786-3799 (2017).

[2]. F. Ansari, M. R. Taban, and S. Gazor, “A Novel Sequential Algorithm For Clutter And Direct Signal Cancellation In Passive Bistatic Radars,” EURASIP Journal on Advances in Signal Processing, Vol. 2016, No. 134, (2016).

[3]. L. D. Tho, L. V. Trinh, and N. C. Oai, “Research on solution to expand the bandwidth of X-band waveguide bandpass filter applied in passive radar,” Journal of Military Science and Technology, pp. 113–119, (2024).

[4]. K. D. Dung, N. D. Tinh, N. T. Hung, and V. T. Hung, “X-band bandpass filter structure for passive radar using SIW technology,” Journal of Military Science and Technology, vol. 104, pp. 41–48, (2025).

[5]. P. Wojaczek, D. Cristallini, D. W. O’Hagan, F. Colone, G. P. Blasone, and P. Lombardo, “A Three-Stage Inter-Channel Calibration Approach for Passive Radar on Moving Platforms Exploiting the Minimum Variance Power Spectrum,” Sensors, Vol. 21, No. 69, (2020).

[6]. G. P. Blasone, F. Colone, P. Lombardo, P. Wojaczek, and D. Cristallini, “Passive Radar DPCA Schemes With Adaptive Channel Calibration,” IEEE Transactions on Aerospace and Electronic Systems, Vol. 56, No. 5, pp. 4014-4034, (2020).

[7]. J. Wang and Y. Chen, “Novel Detectors for Passive Radar Sensing With I/Q Imbalance and Additive Distortion,” IEEE Systems Journal, Vol. 18, No. 1, pp. 73-84, (2023).

[8]. P. Samczyński, K. Abratkiewicz, M. Płotka, T. P. Zieliński, J. Wszołek, S. Hausman, P. Korbel, and A. Księżyk, “5G Network-Based Passive Radar,” IEEE Transactions on Geoscience and Remote Sensing, (2021).

[9]. K. Abratkiewicz, A. Księżyk, M. Płotka, P. Samczyński, J. Wszołek, and T. P. Zieliński, “SSB-Based Signal Processing for Passive Radar Using a 5G Network,” IEEE Journal of Selected Topics in Applied Earth Observations and Remote Sensing, Vol. 16, pp. 3469-3484, (2023).

[10]. M. A. Richards, “Fundamentals of Radar Signal Processing,” 2nd ed. New York, NY, USA: McGraw-Hill Education, (2014).

Tải xuống

Đã Xuất bản

15-10-2026

Cách trích dẫn

[1]
Tran Duc Thien, Nguyen Cao Huu, và D. L. Trần Xuân, “Nghiên cứu và đánh giá bù sai lệch đáp ứng tuyến trung tần giữa hai kênh trong máy thu rađa thụ động”, J. Mil. Sci. Technol., vol 114, số p.h 114, tr 55–62, tháng 10 2026.

Số

Chuyên mục

Kỹ thuật điều khiển & Điện tử